Tập 3: Kỳ Vọng Một Doanh Nghiệp Ở Đâu Trong Chu Kỳ Ngành Bứt Phá?

0
54

Những chỉ số cần lưu ý sau bài viết này:

  • DWT – (Deadweight Tonnage) là đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của tàu thủy tính bằng tấn chiều dài (1 DWT = 1 tấn).
  • EPS – (Earning per Share) là chỉ số tính mức lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp tạo ra trên mỗi cổ phiếu lưu hành.
  • P/E – (Price over EPS) là chỉ số tính ra với mỗi đồng vốn bỏ ra ban đầu, cần bao nhiêu năm thì khoản đầu tư này sẽ hòa vốn.

___________________________________________________________________________
Như đã đề cập ở bài viết trước, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là so sánh với các đối thủ cùng ngành trong nước, tôi còn chú ý tới vị thế của ngành chúng ta so với các nước trong khu vực với một điểm đáng chú ý – năng lực một ngành ở Việt Nam so với quốc tế có “tiếng nói” rất lớn đến năng lực cạnh tranh trong tương lai của DN. Bài viết cuối cùng trong chuỗi series Ngành cảng biển sẽ tóm tắt lại bằng Gemadept (HOSE: GMD) – một doanh nghiệp duy nhất bao phủ nguyên chuỗi giá trị của ngành cảng biển ở nước ta. Tôi sẽ chỉ đánh giá kì vọng thị trường so với biến đổi mô hình hoạt động của GMD theo thời gian và liệu DN sẽ đứng ở đâu so với kì vọng tăng trưởng trong tương lai?


1. MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ NHỮNG CƠ HỘI TRONG TƯƠNG LAI

Tạm gác qua việc Gemadept đã và/hoặc đang hoạt động đa ngành nghề ở những lĩnh vực như cho thuê BDS hay trồng rừng cao su vì đây là những ngành nghề không thuộc hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp. Hiện nay, GMD chủ yếu hoạt động khai thác cảng, dịch vụ logistics, vận tải và cho thuê kho bãi, đất và văn phòng. Trong đó, doanh thu từ khai thác cảng chiếm hơn 84% tổng doanh thu; kế đến là dịch vụ logistics, vận tải và cho thuê văn phòng lần lượt chiếm 15.7% và dưới 0.1% (Hình 12).


Là một trong những nước có hệ thống cảng biển phân tán nhất thế giới, ngành cảng biển Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức rõ ràng với hai điểm tư duy đáng chú ý là (1) Đồng bộ hóa trong việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và thực thi chính sách từ Chính phủ Việt Nam và (2) Quỹ đất của các DN đầu ngành như thế nào để phát huy dư địa tương lai của ngành. Đây là hai yếu tố cần và đủ để toàn ngành tiến tới nâng cao chất lượng và giảm chi phí dịch vụ, như tôi đã đề cập ở bài viết trước.


Hiện nay, Việt Nam có 2 khu vực chú ý là Hải Phòng – Đình Vũ (HPDV) và Thị Vải – Cái Mép (TVCM). Đối với HPDV, đây là cảng trọng điểm miền bắc với khả năng tiếp nhận tàu trong tương lai 100,000 DWT và công suất 10 triệu tấn/năm (Hình 13).

Tuy lớn nhất Việt Nam ở thời điểm hiện tại, HPDV đã gần như hết quỹ đất để phát triển thêm cảng. Điểm nhấn sẽ nằm ở cảng TVCM với khả năng tiếp nhận tàu trong tương lai là 200,000 DWT với công suất dự kiến vào năm 2025 đạt 6 triệu TEU. Trọng điểm ở vùng này sẽ tới từ Gemalink Cái Mép. Với tiềm năng từ dự án này, Gemadept tự tin tiếp nhận 2 triệu TEUs trong 3 năm nữa với giai đoạn 1 đang đi vào hoạt động (Hình 14).


Với khả năng tiếp nhận tàu tải trọng siêu lớn, cảng TVCM sẽ mang lại giải pháp xuất nhập khẩu của nước ta thay vì chỉ là trạm trung chuyển rồi xuất và nhập hàng hóa thông qua Thượng Hải (đối với HPDV) và Malaysia – Singapore (đối với TVCM). Trên hết, dự án này có thể mang tới giải pháp mới cho các tuyến giao thương châu Á – châu u và châu Á – Thái Bình Dương.


2. CHUYỂN HÓA NHỮNG TIỀM NĂNG TRÊN ĐỂ “SỐ HÓA” KÌ VỌNG THỊ TRƯỜNG TRONG TƯƠNG LAI?

Tổng hợp những yếu tố trên và trong những bài viết trước, cho tôi “mạn phép” được lấy Gemadept như một công cụ tiêu chuẩn đánh giá tiềm năng toàn ngành trong tương lai. Hiện định giá P/E của GMD trong ngưỡng ổn định trong vòng vài năm trở lại (Hình 16).

Với tiềm năng từ dự án Gemalink Cái Mép, GMD tự tin tiếp nhận 2 triệu TEUs trong 3 năm nữa với giai đoạn 1 đang đi vào hoạt động. Với sự chuyển dịch cơ cấu hoàn toàn về mảng logistics và cung ứng sản phẩm, Gemadept đang đi trên con đường rất rõ ràng như cách Singapore Post Ltd đã trải qua trong giai đoạn 2014 – 2016. Thị trường đã trả cho Singapore Post Ltd (SGX: S08) mức P/E quanh mức 15 – 18 lần trong giai đoạn ổn định với đỉnh điểm ở ngưỡng 26 lần vào quý 1/2015. Lí do tôi chọn S08 làm thước đo chuẩn dựa trên hai yếu tố:


(1) Ngành cảng biểnThái Lan có tính phân tán giống nước ta, tuy nhiên, các DN cảng đều chịu lợi nhuận thấp do toàn ngành giảm giá dịch vụ và không phải là cầu nối chủ lực cho các tuyến tàu Á – u và Á – Thái Bình Dương.

(2) S08 có mô hình hoạt động tương đồng và trên hết đã trải qua sự dịch chuyển cơ cấu doanh thu từ phân tán sang tập trung ngành nghề cốt lõi.


Như vậy, nếu như GMD tự tin có thể đưa dự án Gemadept Cái Mép vào hoạt động với ⅔ công suất trong năm sau, tổng doanh thu vào năm 2020 dự kiến đạt khoảng 3,000 tỷ đồng. Tất nhiên, với dự phóng này, tôi cần đưa ra giả định toàn cảng Thị Vải – Cái Mép cần phải tiếp đón thêm khoảng 2 – 3 siêu tàu với tải trọng quanh 150,000 – 200,000 DWT và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Quay trở lại vấn đề kết quả kinh doanh, khi ấy, lợi nhuận sau thuế của GMD dự phóng đạt 700 tỷ đồng với P/E quanh ngưỡng 15. EPS của GMD rơi vào khoảng 2,358 đồng/cổ phiếu. Tổng hợp những ý trên, GMD sẽ được định giá quanh 35,370 đồng / cổ phiếu vào năm 2020.