Tin Ra Là Mua Hay Bán? – Phần 1

0
108
Đầu tư thường dễ rơi vào trường hợp mua cổ phiếu xong thì tin tức cổ phiếu đó ra liên tục. Nhiều người bảo “Tin ra thì bán”, nhưng cũng không ít người bảo “Tin ra là mua”. Thị trường lại chia ra làm 2 phe: Phe thứ nhất đối với những nhà đầu tư mới tham gia thị trường: Tin tốt ra thì mua, tin xấu ra là phải bán. Nhưng cũng có phe thứ hai nhiều trãi nghiệm hơn cho rằng: Tin tốt ra là tranh thủ bán giá cao, và tin xấu ra phải canh mua giá thấp.
Nhóm thứ hai có vẻ tận dụng được tâm lý thị trường cho chiến lược giao dịch của mình tốt hơn, nhưng việc bán được giá cao không có nghĩa là cổ phiếu không thể đạt được những vùng giá cao hơn nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng giá trị của mình thông qua các chiến lược kinh doanh hiệu quả, và ngược lại, giá thấp vẫn có thể thấp hơn nếu doanh nghệp đang suy kiệt dần. Thế nên, việc phản ưng theo các thông tin liên tục rất dễ cuốn nhà đầu tư vào những phi vụ giao dịch ngắn hạn và kém hiệu quả.
Thực tế này cho thấy việc đánh giá bản chất của thông tin và mức độ tác động của nó tới hoạt động kinh doanh cũng như giá trị của doanh nghiệp là một kỹ năng cực kỳ quan trọng để đưa ra quyết định hợp lý cho nhà đầu tư. Bài viết này sẽ nói về những kỹ đang đánh giá thông tin từ những case cổ phiếu thực tế ở Việt Nam. Câu hỏi đầu tiên phải là:

PHẦN 1: TIN NÀO LÀ TỐT, TIN NÀO LÀ XẤU?

Nhìn sơ qua thì việc trả lời câu hỏi này không quá khó. Ra thông tin “Doanh thu và lợi nhuận trước thuế Q3/2019 đạt 7.104 tỷ và 1.368 tỷ, lần lượt tăng 18% và 30% so với cùng kỳ” như FPT [Công Nghệ] thì dễ hiểu đây là thông tin tốt, và ngược lại “Doanh thu Q3/2019 đạt 392 tỷ, giảm 70% so với cùng kỳ năm ngoái” như NLG [BDS] thì có khối người sẽ phải chạy té khói vì đây rõ ràng là tin cực xấu. Tuy nhiên có vài điều cần lưu ý ở đây.
1. Khi thông tin khi đã ra mặt báo thì nó đã qua tay rất nhiều người
Đây thường là người nội bộ hoặc những nhóm thân cận với dòng tiền lớn, và họ đã phản ứng trước khi thông tin đến tay những nhà đầu tư nhỏ lẻ. Nhìn lại đoạn tháng 4/2016 của SKG [Vận tải] sẽ thấy toàn những thông tin tốt như “Cty nâng tỷ lệ cổ tức 2015 lên 50%, và lãi ròng quý 1 tăng vọt 55% nhờ giá dầu thấp”. Không ít nhà đầu tư đã đưa ra quyết định mua cổ phiếu này, nhưng đâu ngờ rằng người nội bộ đã thấy được áp lực cạnh tranh lớn từ đối thủ ngoài ngành là VJC [Hàng không] từ nhiều năm trước đó, và thực tế họ đã bắt đầu “thoái vốn” khỏi SKG từ tận đầu năm 2015. Năm 2016 đánh dấu đỉnh mọi thời đại của giá cổ phiếu và thông tin tốt đẹp kia cũng chỉ là con số tổng kết chuỗi tăng dài trước đó.
Thế nên, khi thông tin đến được tay công chúng thì nó đã được phản ánh hay “chiếc khấu” vào giá cổ phiếu rồi, và việc đưa ra quyết định đơn thuần trên nội dung bề nỗi của các thông tin là một hành động lãng phí thời gian nếu không nhìn sâu vào tình hình kinh doanh thực tế.
2. Tin tốt hay xấu còn phụ thuộc vào mô hình kinh doanh
Đôi khi thông tin bạn nhận được không liên quan trực tiếp tới một doanh nghiệp cụ thể, đại loại như “giá dầu thô liên tục lao dốc từ do OPEC gia tăng cung dầu” trong suốt giai đoạn từ 2014 – 2016. Dĩ nhiên đây sẽ là thông tin tốt cho các doanh nghiệp vận tải nói chung bởi khả năng tiết giảm chi phí đầu vào, nhưng đối với các doanh nghiệp thuộc ngành dầu khí như PVD, PVB [Dịch vụ dầu khí] đây là một cơn ác mộng, bởi không thể tiếp tục cung cấp dịch vụ cho các công ty khai thác dầu khí với tình trạng giá dầu dưới điểm hòa vốn trong thời gian dài.
Tuy nhiên lại có những mô hình kinh doanh như PLX [Thương mại xăng dầu] lại không bị ảnh hưởng quá lớn bởi biến động của giá xăng dầu nhập khẩu nói chung. Bởi cơ chế tính giá uyển chuyển của Bộ Công Thương mà giá bán đầu ra được tính toán theo giá nhập khẩu đầu vào để đảm bảo một mức sinh lợi cố định cho PLX. Thế nên, đọc tin tức mà không hiểu mô hình kinh doanh của doanh nghiệp thì cũng khó mà biết được tác động của nó vào doanh nghiệp như thế nào.
3. Nhiều lúc thông tin không mang một thông điệp “tốt” hay “xấu” đủ rõ ràng
Vào cuối năm 2015, MWG [Bán lẻ] công bố thông tin “Thế Giới Di Động thử nghiệm chuỗi cửa hàng Bách Hóa Xanh”, tại thời điểm đó thị trường chia là làm 2 nhóm quan điểm. Nhóm thứ nhất cho rằng MWG đang đi một bước đi cực kỳ rủi ro vì tham gia vào ngành quá mới mẻ và áp lực cạnh tranh cũng không hề nhỏ từ những đối thủ mạnh như Satra Food, Coop Food, Vinmart và cả chợ truyền thống. Nhóm thứ hai lại kỳ vọng rất lớn vào năng lực quản lý chuỗi cung ứng, cũng như khả năng gia tăng quy mô mà MWG đã tích lũy từ 2 chuỗi bán lẻ rất thành công trước đó, và cả bằng chứng rõ ràng về tiềm năng tăng trưởng vô cùng lớn của thị trường bán lẻ ở Việt Nam, đặt biệt tại các tỉnh.
Khác với những thông tin phản ánh quá khứ và dễ hiểu như “Thông báo KQKD hàng quý”, thông tin về việc “Công ty sắp triển khai một chiến lược tăng trưởng mới” sẽ tương đối khó để chỉ ra ngay đây thực sự là tin tốt hay xấu cho doanh nghiệp, vì đây là câu chuyện của tương lai, thậm chí là tương lai xa như trường hợp của MWG ở trên.
Đây là lúc ngoài hiểu biết về nguồn lực của doanh nghiệp, chúng ta cần mở rộng đánh giá ra các đối thủ trong ngành để đánh giá xem chiến lược của doanh nghiệp sẽ đánh vào phân khúc nào, áp lực cạnh tranh tại đó ra sao, cũng như hành vi người tiêu dùng đang chuyển biến theo chiều hướng nào. Những thông tin có được mới chính là nền tảng để đánh giá xác suất thành công của chiến lược và sau cùng là đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Ở những phần sau chúng ra sẽ nói sâu về các kỹ thuật phân tích như thế.